I. Nhiếp ảnh là gì?

  • Nhiếp ảnh là quá trình tạo ra hình ảnh bằng tác động của ánh sáng với phim hoặc thiết bị nhạy sáng. Nhiếp ảnh dùng một thiết bị đặc biệt để ghi lại hình ảnh của vật thể thông qua ánh sáng được phản chiếu từ các vật thể lên giấy hoặc phim nhạy sáng, bằng cách căn thời gian phơi sáng. Quá trình này được thực hiện bằng các thiết bị cơ họchóa học, hay kỹ thuật số thường được gọi là máy ảnh hay máy chụp hình.
  • Thông thường, một ống kính được sử dụng để tập trung ánh sáng phản xạ hoặc phát ra từ các vật vào một hình ảnh thực sự trên các bề mặt nhạy sáng bên trong một máy ảnhtrong quá trình phơi sáng trong một khoảng thời gian. Với một cảm biến hình ảnh điện tử, điều này tạo điện lượng tại mỗi điểm ảnh, được xử lý bằng điện tử và lưu trữ trong một tập tin hình ảnh kỹ thuật số để hiển thị hoặc xử lý tiếp theo. Kết quả với nhũ ảnh là một hình ảnh ẩn vô hình, đó là sau đó được rửa bằng hóa chất thành một hình ảnh có thể nhìn thấy, hình âm bản hoặc dương bản tùy thuộc vào mục đích của vật liệu nhiếp ảnh và phương pháp chế biến. Một hình ảnh âm bản trên phim theo trruyền thống được sử dụng để tạo ra một hình ảnh dương bản trên giấy, được biết đến như một bản in, hoặc bằng cách sử dụng một máy phóng hoặc bằng cách in tiếp xúc.
  • Nhiếp ảnh được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học, sản xuất (ví dụ như trong quang khắc) và kinh doanh, cũng như sử dụng nhiều hơn trực tiếp của mình cho nghệ thuật, mục đích giải trí, sở thích, và thông tin đại chúng.

II. Lịch sử của nhiếp ảnh.

  1. Các công nghệ tiền thân.
  • Nhiếp ảnh là kết quả của việc kết hợp nhiều khám phá kỹ thuật. Rất lâu trước khi những bức ảnh đầu tiên đã được thực hiện, nhà triết học Trung Quốc Mặc Tử và nhà toán học Hy Lạp Aristotle và Euclid đã mô tả một máy ảnh pinhole trong thế kỷ 5 và thế kỷ 4 trước Công nguyên. Trong thế kỷ thứ 6, toán học Byzantine Anthemius của Tralles sử dụng một loại của camera obscura trong các thí nghiệm của mình, Ibn al-Haytham (Alhazen) (965–1040) đã nghiên cứu camera obscura và pinhole camera, Albertus Magnus (1193–1280) đã khám phá bạc nitrat, và Georg Fabricius (1516–71) khám phá ra bạc clorua. Các kỹ thuật được mô tả trong Book of Optics có khả năng tạo ra các bức ảnh sử dụng các vật liệu trung cổ.
  • Daniele Barbarođã mô tả một diaphragm năm 1566. Wilhelm Homberg đã mô tả làm thế nào để ánh sáng làm tối một số hóa chất (hiệu ứng quang hóa) năm 1694. Sách hư cấu Giphantie, xuất bản năm 1760, bởi tác gia Pháp Tiphaigne de la Roche, mô tả nhiếp ảnh nghĩa là gì.
  • Việc phát hiện ra phòng tối tạo ra một hình ảnh của một cảnh có lịch sử từ thời Trung Quốc cổ đại. Leonardo da Vinci đề cập đến những hình ảnh tự nhiên được hình thành bởi những hang tối trên rìa của một thung lũng ngập tràn ánh nắng. Một lỗ trên tường hang động sẽ hoạt động như một ống kính máy ảnh và chiếu một hình ảnh lộn ngược về phía sau trên một mảnh giấy. Vì vậy, sự ra đời của nhiếp ảnh chủ yếu là có liên quan với phát minh ra phương tiện để nắm bắt và giữ hình ảnh được sản xuất bởi các buồng tối máy ảnh.
  • Các họa sĩ thời kỳ Phục hưng sử dụng buồng tối của máy ảnh, trong thực tế, mang lại sự kết xuất quang học màu sắc mà đã thống trị Nghệ thuật phương Tây. Các buồng tối máy ảnh là một cái hộp có lỗ trong đó cho phép ánh sáng đi qua và tạo ra một hình ảnh ngược trên mảnh giấy.

 

2. Phát minh ra nhiếp ảnh

  • Khoảng năm 1800, nhà phát minh người Anh Thomas Wedgwoodđã thực hiện nỗ lực đầu tiên được biết đến để chụp hình ảnh trong một buồng tối bằng một chất nhạy cảm với ánh sáng. Ông đã sử dụng giấy hoặc da trắng được xử lý bằng bạc nitrat. Mặc dù ông đã thành công trong việc chụp bóng của các vật thể được đặt trên bề mặt dưới ánh sáng mặt trời trực tiếp, và thậm chí tạo ra các bức tranh bóng trên kính, nó đã được báo cáo vào năm 1802 rằng “những hình ảnh được tạo thành bằng phương tiện của máy ảnh khá mờ nhạt, trong bất kỳ thời gian vừa phải, một hiệu ứng trên nitrat bạc.” Những hình ảnh bóng này cuối cùng cũng bị chuyển sang tối đen hoàn toàn.
  • Ảnh cố định đầu tiên được chụp năm 1826 bởi Joseph Nicéphore Niépcebằng một máy ảnh hộp gỗ do Charles and Vincent Chevalier làm ra ở Paris. Niépce dựa trên phát hiện của Johann Heinrich Schultz (năm 1724): hỗn hợp bạc và phấn bị đen lại khi gặp ánh sáng. Tuy nhiên, đó là thời điểm bắt đầu của nhiếp ảnh, còn máy ảnh thì còn sớm hơn nữa. Trước khi phát minh ra phim ảnh thì không có cách nào để giữ lại ảnh từ các máy ảnh ngoài cách đồ lại bằng tay.

Hình ảnh khắc gỗ về ảnh chụp được biết đến lần đầu tiên, được in từ một tấm kim loại được chế tạo bởi Nicéphore Niépce. Các tấm được che chắn dưới một hình khắc thông thường và sao chép hình khắc bằng phương tiện chụp ảnh. Đây là một bước tiến tới bức ảnh vĩnh viễn đầu tiên chụp bằng máy ảnh.

  • Máy ảnh đầu tiên đủ nhỏ và mang đi được để chụp ảnh được làm bởi Johann Zahnnăm 1685, gần 150 năm trước khi kỹ thuật đủ sức làm ra tấm ảnh. Các máy ảnh đầu tiên giống máy của Zahn, thường có thêm những cái hộp trượt ra-vào để lấy nét. Mỗi lần thu hình, một tấm chất nhạy sáng được đặt vào chỗ màn ảnh ngắm. Quy trình daguerreotype của Jacques Daguerre dùng tấm đồng, còn quy trình calotype do William Fox Talbot phát minh thì thu hình lên tấm giấy.
  • Frederick Scott Archertìm ra quy trình tấm collodion ướt năm 1850, làm giảm đáng kể thời gian rọi sáng, nhưng người chụp phải tự chuẩn bị tấm kính trong một phòng tối di động ngay trước khi chụp. Các quy trình tấm ambrotype và tintype ướt rất phổ biến trong nửa sau của thế kỷ 19 mặc dù chúng hơi phức tạp. Các loại máy ảnh chụp tấm ướt hơi khác các kiểu máy trước, mặc dù cũng có một vài kiểu cho phép đặt tấm nhạy sáng bên trong máy thay vì ở trong một phòng tối rời (ví dụ như kiểu máy Dubroni năm 1864). Một số máy ảnh có nhiều ống kính để chụp ảnh cỡ tấm danh thiếp. Kiểu máy chụp với phần thân xếp co giãn để lấy nét trở nên phổ biến trong thời kỳ chụp ảnh tấm ướt này.

MÁY ẢNH

I. Máy Ảnh là gì?

  • Máy ảnh hay máy chụp hình là một dụng cụ dùng để thu ảnh thành một ảnh tĩnh hay thành một loạt các ảnh chuyển động (gọi là phim hay video). Tên camera có gốc từ tiếng La tinh camera obscura nghĩa là “phòng tối”, từ lý do máy ảnh đầu tiên là một cái phòng tối với vài người làm việc trong đó. Chức năng của máy ảnh giống với mắt người. Máy ảnh có thể làm việc ở phổánh sáng nhìn thấy hoặc ở các vùng khác trong phổ bức xạ điện từ.
  • Mỗi máy ảnh thường có một khoảng kín, khoảng này có một đầu là lỗ ống kínhđể cho ánh sáng đi vào và đầu kia là nơi ghi ảnh hay xem ảnh. Hầu hết các máy ảnh đều có ống kính gắn ở phía trước để gom ánh sáng lại và hội tụ thành ảnh trên bề mặt ghi ảnh. Đường kính của lỗ ống kính thường được kiểm soát bằng cơ chế diaphragm, nhưng cũng có những máy ảnh có lỗ ống kính không đổi.
  • Kích thước của lỗ ống kính và độ sáng của cảnh chụp quyết định lượng ánh sáng đi vào máy ảnh trong một khoảng thời gian, và màn trậpđiều khiển thời gian mà ánh sáng chiếu lên bề mặt ghi ảnh. Ví dụ, trong điều kiện ít sáng,, tốc độ màn trập nên chậm (tức là mở lâu hơn) để tấm phim nhận được thêm ánh sáng.
  • Do tính chất của ống kínhmáy ảnh, chỉ có những vật nằm trong một khoảng cách nào đó mới được thấy rõ. Quá trình điều chỉnh khoảng cách đó gọi là lấy nét trên máy ảnh. Có vài cách để lấy nét. Máy ảnh đơn giản nhất dùng cách lấy nét cố định với một lỗ ống kính nhỏ và ống kính góc rộng sao cho mọi thứ trong khoảng cách nào đó từ ống kính (thường là từ 3 mét tới vô cực) đều tương đối rõ nét. Cách này thường thấy ở loại máy ảnh dùng một lần rồi bỏ hoặc máy ảnh rẻ tiền. Một kiểu máy ảnh khác có một số khoảng rõ nét gọi là lấy nét bậc, các khoảng này được chỉ trên thân máy. Người dùng sẽ ước lượng khoảng cách của đối tượng rồi chọn bậc rõ nét tương ứng. Các bậc có thể được vẽ thành các biểu tượng như đầu và vai, hai người đứng, một cái cây, ngọn núi.
  • Máy ảnh đo khoảng cách qua lỗ ngắmcho phép đo khoảng cách tới đối tượng bằng một máy đo thị sai trên đầu máy. Máy ảnh SLR cho phép người chụp nhìn qua lỗ ngắm thấy ảnh sắp chụp và lấy nét trước khi chụp. Máy ảnh phản chiếu hai ống kính dùng một ống kính để chụp và một ống kính để lấy nét, hai ống kính này được liên kết với nhau để chỉnh cùng một lúc. Máy ảnh ngắm thẳng cho ảnh rọi lên một tấm kính mờ để ngắm, ngắm xong thì thay tấm kính mờ bằng tấm phim để chụp.
  • Máy ảnh thời nay thì có chức năng lấy nét tự động.
  • Máy ảnh thường thu ánh sáng trên tấm phim ảnhhoặc kính ảnh. Máy quay video và máy ảnh số dùng dụng cụ điện tử, thường là bộ cảm biến CCD hoặc CMOS để thu ánh sáng rồi ghi vào băng hoặc bộ nhớ, sau đó có thể xem lại hoặc xử lý ảnh.
  • Máy ảnh thu nhiều ảnh liên tiếp gọi là máy quay phim; máy chỉ thu từng ảnh gọi là máy chụp ảnh. Tuy nhiên ranh giới giữa hai loại này không còn rõ ràng nữa. Máy quay videolà loại máy quay phim nhưng thu hình bằng phương pháp điện tử (analog hoặc digital).
  • Máy ảnh nổichụp được hình giống như có ba chiều bằng cách chụp 2 hình khác nhau rồi ghép lại để tạo ảo giác về bề sâu của hình. Máy ảnh nổi có 2 ống kính cạnh nhau.
  • Một số máy ảnh phim có tính năng in ngày, để in ngày lên tấm phim.

    II. Các bộ phận của máy ảnh

    1. Cách bảo quản máy

– Máy ảnh là thiết bị có độ chính xác cao. Không làm rơi máy ảnh hoặc để máy ảnh chịu tác động mạnh.

– Máy ảnh không có khả năng chống thấm nước, vì vậy không thể sử dụng dưới nước.

– Đóng chặt các nắp như nắp cổng kết nối, nắp ngăn chứa pin, nắp khe cắm thẻ, v.v… để chống bụi và nước cho máy ảnh một cách hiệu quả nhất.

– Máy ảnh này được thiết kế để chống bụi và nước, nhằm tránh không cho cát, bụi, chất bẩn hoặc nước rơi vào trong máy ảnh, tuy nhiên không thể ngăn chặn tuyệt đối chất bẩn, bụi, nước hoặc muối chui vào bên trong. Do đó bạn nên tránh hết mức, không để các vật thể này rơi vào máy ảnh.

– Nếu máy ảnh bị dính nước, lau sạch bằng miếng vải sạch và khô. Nếu chất bẩn, bụi hoặc muối dính vào máy ảnh, lau sạch bằng miếng vải sạch ẩm, vắt kỹ.

– Dùng máy ảnh ở nơi có lượng lớn bụi hoặc chất bẩn có thể gây ra trục trặc.

– Bạn nên làm sạch máy ảnh sau khi sử dụng. Việc giữ lại chất bẩn, bụi, nước hoặc muối trên máy ảnh có thể sẽ gây ra trục trặc.

– Nếu bạn vô tình làm rơi máy ảnh vào nước hoặc lo ngại rằng hơi ẩm (nước), chất bẩn, bụi hoặc muối có thể đã chui vào bên trong máy ảnh, hãy nhanh chóng liên hệ Trung tâm bảo hành gần nhất.

– Tuyệt đối không để máy ảnh gần các vật có từ trường mạnh như nam châm hoặc động cơ điện. Ngoài ra, tránh sử dụng hoặc để máy ảnh gần vật phát sóng vô tuyến mạnh như ăng-ten lớn. Từ trường mạnh có thể khiến máy ảnh trục trặc hoặc làm hỏng dữ liệu ảnh.

– Không để máy ảnh tại những nơi có nhiệt độ cao như trong ô tô có ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp. Nhiệt độ cao có thể gây trục trặc cho máy ảnh.

– Máy ảnh có hệ thống mạch điện tử chính xác. Tuyệt đối không tự ý tháo rời máy ảnh.

2. Những điều cần chú ý khi thao tác

– Không để ngón tay hoặc các vật khác cản trở hoạt động của gương lật. Làm vậy có thể gây trục trặc cho máy ảnh.

– Sử dụng bóng thổi để thổi sạch bụi trên ống kính, khung ngắm, gương phản chiếu và màn hình lấy nét. Không sử dụng chất tẩy rửa có chứa dung môi hữu cơ để vệ sinh máy ảnh hoặc ống kính. Với vết bẩn khó lau, bạn cần mang máy ảnh đến Trung tâm bảo hành gần nhất của Canon.

– Không chạm ngón tay vào điểm tiếp xúc điện của máy ảnh. Điều này bảo vệ điểm tiếp xúc khỏi bị mòn. Điểm tiếp xúc bị mòn có thể gây trục trặc cho máy ảnh.

– Nếu đột ngột chuyển máy ảnh từ nơi lạnh vào phòng ấm, hơi nước có thể đọng trên máy ảnh và các bộ phận bên trong. Để tránh đọng hơi nước, trước tiên đặt máy ảnh vào túi nhựa kín và để máy thích nghi với nhiệt độ ấm hơn trước khi lấy ra khỏi túi.

– Không sử dụng nếu hơi nước đọng trên máy ảnh. Điều này giúp tránh làm hỏng máy ảnh. Nếu đọng hơi nước, tháo ống kính, thẻ và pin ra khỏi máy ảnh. Chỉ tiếp tục sử dụng máy khi hơi ẩm bay hơi hết.

– Nếu không sử dụng máy ảnh trong khoảng thời gian dài, nên tháo pin và bảo quản máy ảnh ở nơi khô ráo, thoáng mát. Trong thời gian cất giữ máy ảnh, thỉnh thoảng nên nhấn nút chụp vài lần để đảm bảo máy ảnh vẫn hoạt động bình thường.

– Tránh cất giữ máy ảnh ở nơi có hóa chất gây gỉ và ăn mòn như trong phòng thí nghiệm hóa học.

– Nếu không sử dụng máy ảnh trong khoảng thời gian dài, nên kiểm tra tất cả chức năng máy ảnh trước khi sử dụng. Nếu không sử dụng máy ảnh trong một khoảng thời gian hoặc cần chụp những sự kiện quan trọng, ví dụ: chuyến đi du lịch nước ngoài sắp tới, bạn nên nhờ Trung tâm bảo hành gần nhất của Canon hoặc tự mình kiểm tra lại máy ảnh để đảm bảo rằng máy vẫn hoạt động chính xác.

– Máy ảnh có thể bị nóng nếu sử dụng tính năng chụp liên tục, chụp Live View hoặc quay phim trong khoảng thời gian dài. Đây không phải vấn đề trục trặc.

– Nếu có nguồn sáng trong hoặc ngoài phạm vi chụp, hiện tượng bóng ma (ảnh bị mờ do lóe sáng) có thể xảy ra.

3. Các bộ phận của máy ảnh.

 

 

Nếu bạn cần sự trợ giúp của một đội ngũ có chuyên môn trong lĩnh vực để tối ưu hiệu quả sản xuất phim doanh nghiệp, hãy tham khảo dịch vụ sản xuất truyền thông của VEJOBS Với đội ngũ có chuyên môn cao, trẻ trung và quy trình làm việc chuyên nghiệp. VEJOBS – Phòng media thuê ngoài của doanh nghiệp  sẽ mang lại trải nghiệm dịch vụ tốt nhất cho khách hàng.

Liên hệ ngay với chúng tôi theo số điện thoại
Hotline: 0966119981 để được tư vấn!

Sưu tầm & Biên soạn : Nguyễn Quốc Chuyển
VEJOBS – Sáng tạo không giới hạn

 

Leave a comment