Trong hướng dẫn dưới đây, hãy cùng xem một số kỹ thuật chuyển cảnh/cắt cơ bản mà người dựng phim nên biết trước khi thực hiện dự án tiếp theo.

Đối với những người ngoài cuộc và những người mới bắt đầu thì dựng phim có lẽ là một trong những mảng bị hiểu lầm nhiều nhất của quá trình làm phim. Nhiều người cho rằng việc editing chỉ đơn giản là cắt bỏ những phần dở tệ và rút ngắn thời lượng sản phẩm. Nghe có vẻ đúng… với những cấp độ thấp, nhưng khi đào sâu hơn vào những giả định đó, chúng ta sẽ biết rõ hơn về biên tập. Thế nào là một phân đoạn tệ? Tôi phải rút ngắn đoạn clip đó xuống còn bao lâu? Những câu hỏi và câu trả lời đó sẽ thay đổi cách nhìn về công việc của chúng ta.

Cho dù bạn đang dùng Premiere, Final Cut Pro X, Resolve hay Avid, thì việc biên tập/editing/dựng phim có hàng loạt những quyết định quan trọng – hoặc sẽ có ích cho câu chuyện của bạn một cách đáng kể hoặc trở thành một trở ngại lớn. Đây là những kỹ thuật kể chuyện/dẫn dắt câu chuyện, không phải là chi tiết kỹ thuật cho một phần mềm cụ thể nào hết. Chúng là những nguyên tắc cơ bản sẽ giúp Project của bạn nổi bật hơn. Hãy cùng xem những điều cơ bản mà mọi người dựng cần phải biết.


Standard Cut ( Cú cắt chuẩn mực )

Tóm tắt: Nguyên tắc cơ bản của biên tập là chuyển cảnh/cắt tiêu chuẩn. Nó là đoạn cắt bằng việc đặt hai clip ở cạnh nhau.

Biểu đồ được làm dựa theo Polina Strelchenko.

Kiểu chuyển cảnh này chỉ đơn giản là sự kết thúc của một hành động và bắt đầu của một hành động khác, diễn ra trong cảnh hoặc từ cảnh này sang cảnh kia. Không có nhiều ý nghĩa bổ sung ở đây, nhưng điều cần thiết là phải biết khi nào việc cắt giảm như thế này có thể hữu ích – hoặc thậm chí là cần thiết. Nếu bạn đang cắt một video quảng cáo hoặc video của công ty, rất có thể bạn sẽ chỉ truyền đạt thông tin cơ bản theo một cách rất có cấu trúc mà không có bất kỳ sự phô trương hay phiền phức nào.

Bạn có thể học các kỹ năng sử dụng phần mềm chỉnh sửa, nhưng không thể học được chính xác cách căn thời điểm cắt, bởi đó hoàn toàn là một cảm giác trực quan. Và cũng giống như mọi công việc khác, cần có thời gian để thành thạo. Tuy vậy, tôi xin được giới thiệu một cuốn sách của người dựng nổi tiếng Walter Murch có tựa đề “Trong nháy mắt: Góc nhìn về dựng phim – In the Blink of an Eye: A Perspective on Film Editing”. Xuyên suốt 146 trang, Murch, người dựng của những bộ phim nổi tiếng như Apocalypse NowJarhead, trình bày các nguyên tắc cơ bản về trực giác với thời điểm cần cắt và cách bạn có thể giúp phát triển trực giác của editor.

Chà, ở một mức độ nhất định, luôn có câu hỏi cơ bản là “Làm cách nào để ghép các bức ảnh lại với nhau?” Giống như mọi biên tập viên khác, tôi phải tìm cách chọn chất liệu phù hợp và cắt đúng cảnh quay vào đúng thời điểm, vào đúng nhân vật vào đúng thời điểm, đồng thời làm cho các cảnh hành động trở nên sống động và thú vị. lịch trình và tất cả những thứ đó. Nhưng đó không phải là vấn đề chính đối với tôi nữa. Tôi cho rằng nó giống như học cách chơi một nhạc cụ: Một khi bạn vượt qua các vấn đề về ngón đàn và học cách đọc bản nhạc, bạn sẽ không nghĩ về chúng một cách có ý thức như vậy.


J-Cut

Một đoạn J-cut sẽ có âm thanh từ clip tiếp theo được phát chèn vào clip hiện tại, trước khi bạn nhìn thấy hình ảnh của clip tiếp theo đó.

Sơ đồ được tạo bằng các yếu tố từ Polina Strelchenko.

J-cut là một kỹ thuật chắc chắn phải dùng để gắn kết các cảnh lại với nhau. Đôi khi, bạn thấy rằng bản chỉnh sửa của mình thật rời rạc mặc dù mọi thứ có vẻ rất hợp lý rồi. Ví dụ như trong một bản chỉnh sửa kết nối cảnh ngoài bãi biển với cảnh bên trong một chiếc ô tô, nơi hai người đang trò chuyện. Mặc dù chuyển cảnh tiêu chuẩn là lựa chọn hợp lý, sự chuyển tiếp từ bãi biển yên tĩnh đến không gian ồn ào bên trong ô tô có thể gây cảm giác bất ngờ. Sử dụng J-cut, bạn có thể làm cho phân đoạn này bớt căng hơn bằng cách di chuyển âm thanh của clip sau chèn vào phần cuối clip trước với âm lượng thấp, rồi tăng âm dần đến khi vào clip 2.

Ngoài ra, J-cut (& L-cut) sẽ được sử dụng trong một cảnh trò chuyện để kết nối âm thanh từ clip tiếp theo, khiến cho cuộc hội thoại tự nhiên hơn. Nếu chỉ cắt đến nhân vật khi đang nói, cảnh phim sẽ có cảm giác rất máy móc.

Như có thể thấy trong sơ đồ, J-cut có tên như vậy vì âm thanh từ clip 2 dịch chuyển theo clip 1 trước khi clip 1 kết thúc và tạo ra hình chữ J.

Ý tưởng ở đây là dẫn dắt khán giả của bạn vào cảnh quay tiếp theo bằng âm thanh. Đó là một hiệu ứng đơn giản nhưng rõ ràng, mang lại sự khác biệt lớn cho phân cảnh.


L-Cut

Một đoạn L-cut có phần âm thanh của clip đầu tiên chồng lên phần đầu của clip thứ 2.

Sơ đồ được tạo bằng các yếu tố từ Polina Strelchenko.

L-cut về bản chất chính là phiên bản ngược lại của J-cut. Thay vì đẩy âm thanh từ clip 2 chèn lên clip 1, L-cut kéo âm thanh của clip hiện tại vào cảnh quay tiếp theo — và tạo ra hình chữ L.

Ngoài các cảnh hội thoại, mặc dù hiệu ứng này trái ngược với J-cut, nó có thể có tác động rất nhiều đến cách người xem cảm nhận các cảnh của bạn diễn ra. Vẫn với ví dụ từ J-Cut (bãi biển và ô tô), việc nghe âm thanh từ trong ô tô trước sẽ dẫn chúng ta vào cảnh tiếp theo. Nếu sử dụng L-cut và kéo dài âm thanh từ clip 1 – bãi biển đến clip 2 – chiếc xe, ta sẽ tạo được cảm giác u sầu hoặc hoài niệm về địa điểm đó. Tâm trí của nhân vật vẫn ở bãi biển dù thể xác đang ở trong ô tô.

Ba cách chuyển cảnh trên là nền tảng cho phần lớn các thao tác chỉnh sửa, và ngoài một số hiệu ứng chuyển cảnh khác, bạn cũng không có nhiều lựa chọn cho sản phẩm của mình cho lắm. Tuy vậy, điều bạn có thể làm là thay đổi cách mà bản chỉnh sửa của mình được tiếp thu – được quyết định bởi việc bạn chọn sẽ sửa gì cho cảnh tiếp theo.

Hãy cùng xem xét một số kỹ thuật được các pro sử dụng.


Jump Cut

Jump Cut – lấy một phân cảnh, sau đó cắt nhảy liên tiếp, khiến cho chủ thể trông thật rời rạc. Thường được sử dụng để biểu thị sự thay đổi trong thời gian.

Jump Cut giúp bạn lôi kéo khán giả một cách thú vị và nhanh chóng. Kỹ thuật này rất đơn giản: lấy một đoạn clip dài (long take) và cắt ra thành nhiều phần, để các nhân vật của bạn xóa và nhảy vượt thời gian. Hiệu ứng gây ra khá là hỗn loạn, nhưng nhờ các bộ phim hài và các vlogger trên YouTube, Jump Cut đã được khắc sâu vào tiềm thức mọi người như một cách để tăng tốc cảnh quay.

Do tính chất lộn xộn của Jump Cut, kỹ thuật này thường ít khi được sử dụng trong phim truyền hình hoặc phim điện ảnh bởi vì nó khiến chúng ta nhận thức được việc chỉnh sửa. Ứng dụng của nó trong phim điện ảnh thường là để tạo hiệu ứng hài hước.

Mặc dù vậy, theo ý kiến của nhà làm phim David F. Sandberg (Shazam), Jump Cut cũng có thể được dùng để cùng thử các hiệu ứng thực tế trong phim kinh dị và hành động.


Montage

Montage là một loạt các clip thể hiện sự thay đổi về thời gian, con người hoặc địa điểm.

Montage là yếu tố chủ đạo có mặt trong những bộ phim hành động phim hài và thậm chí cả phim kinh dị hay nhất mọi thời đại. Đoạn Montage cho thấy thời gian trôi qua và nắm bắt sự phát triển của nhân vật theo cách mượt mà nhất có thể.

Được sử dụng trong các bộ phim hành động hoặc trong các bộ phim muốn gợi lên sự hoài niệm của thập niên 80, kỹ thuật này thường dùng để thể hiện quá trình tập luyện của nhân vật chính cho sự kiện lớn chuẩn bị diễn ra. Mặc dù Rocky không phải là bộ phim đầu tiên sử dụng Montage, nhưng nó đã góp công lớn trong sự phổ biến của kỹ thuật này, đặc biệt là với bài nhạc nền siêu phẩm “Gonna Fly Now”.

Kể từ Rocky, các đoạn Training Montage đã được sử dụng trong vô số phương tiện, từ phim Stop-motion cho đến anime.

Bạn có thể tạo dựng Montage theo nhiều cách khác nhau. Trong khi Jump Cut phụ thuộc vào địa điểm và phân cảnh, thì Montage là một chuỗi các hành động. Chèn một bản nhạc hấp dẫn và dễ nhớ vào thước phim với nhân vật của bạn đang cố đạt được một mục tiêu nào đó. Cắt nhỏ đoạn phim, giữ nó ở thời lượng phù hợp và bạn đã có một bản Montage thành công. Đối với những đoạn thể hiện khoảng thời gian dài trôi qua, hãy nhớ chuyển cảnh bằng hiệu ứng Cross Dissolve.

Nếu bạn đang quay một đoạn Training Montage, hãy kết hợp những yếu tố sau để có được thành quả tinh vi hơn:

  • Nhiều bộ trang phục
  • Nhiều thời điểm trong ngày
  • Nhiều kiểu thời tiết khác nhau

Cutting on Action (Cắt tại hành động)

Cutting on Action có nghĩa là bạn sẽ cắt từ một cảnh quay sang một góc quay khác khớp với hành động của cảnh quay đầu tiên

Cutting on Action có nghĩa là bạn thực hiện cắt cảnh giữa lúc chủ thể của bạn đang làm gì đó, có thể là đấm, quay đầu, hoặc chạm tay vào tay nắm cửa trong một cảnh, và rồi mở cửa ra trong cảnh tiếp theo. Việc sử dụng thuần thục kỹ thuật này là rất quan trọng vì nó giúp bạn làm cho quá trình dựng phim trở nên vô hình, giúp khán giả tập trung vào hành động mà không bị xao lãng. Kỹ thuật này chỉ có thể thực hiện được nếu bạn có đủ các góc quay – góc rộng, góc gần và góc tầm trung – giúp bạn có nhiều tư liệu hơn trong quá trình dựng.

Trong ví dụ trên, việc chuyển cảnh diễn ra sau cú xoay người của các cầu thủ bóng chày. Khi đoạn cắt khớp với hành động từ cảnh quay trước, nó tạo ra cảm giác về động năng.

Hành động, về bản chất, là động lực học. Bạn ném một tảng đá vào cửa sổ, cửa sổ sẽ vỡ, và đá sẽ rơi qua phía bên kia. Việc quan sát điều đó diễn ra với tư cách người xem mang tính thụ động và việc dựng phim cho phép bạn biến những khoảnh khắc này trở nên chủ động. Trong quá trình dựng phim, hành động không chỉ cần được quan sát mà còn cần được cảm nhận.

Ngoài ra, thuật ngữ “hành động” không chỉ mang nghĩa với các hành động có định hướng như việc ném gạch vào cửa sổ. Nó có thể chỉ các hành động đơn giản hơn, ví dụ như cảnh một tay thám tử mở chiếc vali được quay ở góc tầm trung và khi vali được mở ra, ta cắt sang góc máy close-up. Góc quay có thay đổi, nhưng hành động mở vali là xuyên suốt, đảm bảo động lực cho hành động đó.


Cross-Cutting

Cross-cutting là kỹ thuật chỉnh sửa thiết lập hai chuỗi hành động riêng rẽ xảy ra cùng một lúc.

Mặc dù có phần rối rắm và phức tạp, Cross-cutting là một một cách hoàn hảo để kể hai câu chuyện cùng lúc. Thường thì hai mạch dẫn truyện này diễn ra đồng thời, vì vậy bạn sẽ cắt qua lại giữa cả hai. Ví dụ đơn giản như cho thấy một nhân vật đang làm gì đó, sau đó cắt qua một nhân vật khác ở một vị trí khác làm một việc khác, rồi cắt trở lại nhân vật đầu tiên. Việc căn thời gian không hề dễ, nhưng đó là một cách tuyệt vời để kể hai câu chuyện cùng một lúc. Mục đích của Cross-cutting là xây dựng sự hồi hộp và tạo cảm giác về phạm vi – một thế giới đủ tầm và đáng xem.

Một trong những ví dụ nổi bật của Cross-cutting là bộ phim Inception (Christopher Nolan). Đến cuối phim, các nhân vật di chuyển qua nhiều lớp của “thế giới trong mơ” và các sự kiện của thế giới này được cảm nhận bởi thế giới khác. Trong trường đoạn cuối cùng, bộ phim liên tục cắt qua lại giữa các dòng thời gian.

Do tính chất phức tạp của nó, Cross-cutting chỉ hiệu quả khi được lên kế hoạch và phác thảo một cách tỉ mỉ. Nếu bạnmuốn dựng một câu chuyện với Cross-cutting thì trước tiên bạn nên hoàn thiện cả hai chuỗi hành động trước, sau đó ghép các chuỗi đã được xử lý lại với nhau.


Cutaways

Cutaways là việc dừng một cảnh quay liên tục rồi cắt sang một cảnh quay của thứ khác.

Cutaways rất hữu ích để bao quát các vấn đề trong cảnh quay của bạn. Hình ảnh của BoxBoy.

Đóng vai trò chính là cảnh bổ sung, Cutaways được chèn vào phân cảnh để giúp người xem hiểu rõ hơn về môi trường xung quanh của nhân vật. Bạn có thể lấy tư liệu từ các thước phim B-roll quay địa điểm. Cutaways có thể là cảnh rộng, cận cảnh hoặc cảnh trung bình. Chỉ cần chú ý không cắt ngang giữa một câu thoại hay khoảnh khắc quan trọng.

Video từ sebra.

Trong đoạn clip trên, máy quay bị rung giữa cảnh. Tuy nhiên, nếu dùng Cutaways đến đoạn chèn, chúng ta có thể che lỗi trong cảnh.

Cutaways thường được dùng như biện pháp cứu cánh khi thước phim bị lỗi nhưng vẫn cần phần âm thanh. Có lẽ ai đó đá vào chân máy, và máy quay đột ngột bị rung hoặc out net khỏi diễn viên. Trong trường hợp đó, Cutaways có thể được dùng để khắc phục lỗi.


Match Cut

Match cut là kỹ thuật sử dụng các yếu tố từ cảnh quay trước để chuyển cảnh tiếp theo. Cảnh tiếp thường hoàn toàn khác với cảnh đầu tiên.

Là kỹ thuật chuyển cảnh lôi cuốn nhất, Match cut đưa sự chú ý của người xem vào cảnh quay tiếp theo trước khi họ kịp nhận ra. Bản chất của nó rất đơn giản: bạn cắt khi nhân vật di chuyển hoặc làm điều gì đó và kết thúc hành động ở một nơi khác hoặc với một nhân vật khác trong cảnh quay tiếp theo. Điều này tạo ra một chuyển động mượt mà, giúp bạn đưa sự chú ý của người xem theo bất kỳ hướng nào bạn muốn.

Match cut không được sử dụng thường xuyên vì nó thu hút sự chú ý đến việc chỉnh sửa – không ổn lắm khi bạn muốn mọi chỉnh sửa trở nên vô hình. Tuy nhiên, khi được sử dụng đúng cách, Match cut đã tạo ra một trong số những đoạn cắt đỉnh nhất trong lịch sử điện ảnh. Nổi bật nhất chính là phân đoạn sau trong “2001: A Space Odyssey”

Mặc dù chủ yếu được sử dụng với hình ảnh, Match cut cũng có thể được thực hiện qua âm thanh. Ví dụ như một nhân vật phản diện chuẩn bị nổ súng về phía nhân vật chính, và ngay khi hắn ta bóp cò, ta cắt đến tiếng chuông nhà thờ ở một vị trí khác. Vì tiếng chuông và tiếng súng có đặc tính âm thanh giống nhau – đều to và vang, nên phần cắt sẽ khớp liền mạch.


Biên dịch: Long log

Chịu trách nhiêm biên tập: VEJOBS

Nguồn: shutterstock.com

Chúng tôi tôn trọng kiến thức, bạn có thể mang đi bất cứ đâu, nhưng xin ghi rõ nguồn và tôn trọng chúng tôi

Chân thành cảm ơn, và sự chia sẻ !!!


Tìm hiểu thêm về khóa học dựng phim:

🔗 https://www.facebook.com/groups/Vejobs/

🔗https://www.facebook.com/dungphimm

☎️ Hotline: 0966119981 (A.Cường)

🏠 Địa chỉ lớp học: Số 179, Ngõ 192 Kim Mã – Ba Đình – Hà Nội.

#khóahọcvideo #videoeditor #video #editvideo #dungphim

Leave a comment